Trong nửa thế kỉ qua, bệnh tăng huyết áp đã được nghiên cứu khá kĩ, người ta cải tiến rất nhiều những quan niệm cũ kĩ trước đây về định nghĩa, chẩn đoán, xếp loại, biến chứng, và nhất là có một tiến bộ về điều trị, chăm sóc người tăng huyết áp.

Thường xuyên kiểm tra huyết áp
là biện pháp hữu hiệu để bảo vệ sứa khỏe của bạn
Huyết áp là gì? Thế nào là tăng huyết áp?
Huyết áp là áp lực của máu trong lòng mạch máu, ở đây là trong lòng các động mạch (nói nôm na là các mạch máu đỏ) chứ không tính đến áp lực trong lòng các tĩnh mạch (là các mạch máu đen).
Các động mạch đưa máu đỏ chứa nhiều oxy đi phân phối cho các cơ quan, bắp thịt, phủ tạng, ... áp lực trong lòng các động mạch rất lớn, nên khi chọc kim vào, máu vọt ra rất mạnh.
Sau khi đã cung cấp oxy cho các cơ quan, máu trở nên nghèo oxy và chuyển sang máu đen, đúng hơn là mầu đỏ thẫm.
Máu đen theo các tĩnh mạch trở về tim để rồi sẽ qua phổi nhận oxy mới. Áp lực máu trong các tĩnh mạch rất thấp, chỉ khoảng 5 10mmHg nên khi chọc kim vào tĩnh mạch khuỷu tay để tiêm "ven", máu chỉ chảy ra thong thả chứ không phụt mạnh như khi chọc kim vào động mạch, bất kì động mạch nào.
Một điểm khác nhau giữa động mạch và tĩnh mạch có thể giúp ta phân biệt được vết thương vào mạch máu nào? Máu động mạch thì phụt ra thành tia, theo nhịp tim. Khi tim bóp vào gọi là tâm thu, thì máu phụt ra rất mạnh, vì áp lực máu lúc đó rất lớn. Ở người thường lên tới 100120mmHg; còn khi tim giãn nghỉ gọi là tâm trương, huyết áp thấp rõ rệt, chỉ còn 6080mmHg. Máu trong tĩnh mạch trái lại, chảy đều vì áp lực trong tĩnh mạch lúc nào cũng giữ khoảng 510mmHg. Khi đo huyết áp động mạch bằng huyết áp kế, người ta thấy rõ hai áp lực tâm thu và tâm trương này. Vì vậy, kết quả đo huyết áp động mạch bao giờ cũng gồm hai con số: con số lớn (trước đây gọi là huyết áp tối đa) là huyết áp tâm thu, rồi đến con số nhỏ (trước đây gọi là huyết áp tâm trương). Cả hai con số đều có giá trị để đánh giá bệnh nặng, nhẹ; cho nên phải ghi và nhớ cả hai.
Vậy huyết áp bao nhiêu là bình thường, bao nhiêu là tăng? Ðối với huyết áp tâm thu (con số lớn) thì từ 90 đến 139mmHg là bình thường, từ 140 trở lên là cao. Từ 140 đến 159 là tăng huyết áp độ 1 (nhẹ); từ 160 đến 179 là độ 2 (trung bình), từ 180 trở lên là độ 3 (nặng).
Ðối với huyết áp tâm trương, Tổ chức Y tế thế giới quy định: dưới 90 mmHg là bình thường, từ 90 trở lên là tăng huyết áp.Từ 90 đến 99 là tăng huyết áp độ 1 (nhẹ); từ 100 đến 109 là độ 2 (trung bình); từ 110 trở lên là độ 3 (nặng). Xin xem bảng dưới đây của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) năm 1999:
HA bình thường: HA tâm thu < 140, HA tâm trương < 90
Tăng HA độ 1 (nhẹ): HA tâm thu 140159, HA tâm trương 9099
Tăng HA độ 2 (trung bình): HA tâm thu 160179, HA tâm trương 100109
Tăng huyết áp độ 3 (nặng): HA tâm thu >180, HA tâm trương >110
Trong nhóm bình thường (<140/90), TCYTTG còn nói rõ hơn: dưới 130/85 là bình thường "thật", và dưới 120/80 là tối ưu (tốt nhất).
Nếu hai con số tâm thu và tâm trương ở hai độ khác nhau, thì lấy độ cao hơn để đánh giá. ví dụ: huyết áp 150/90 nên coi là tăng huyết áp nhẹ: 170/95 là tăng huyết áp trung bình; 200/100 là tăng huyết áp nặng.
Chú ý: những con số huyết áp trên đây áp dụng cho tất cả người lớn từ 18 tuổi trở lên, nam cũng như nữ, già cũng như trẻ.
Không nên quan niệm sai lầm rằng huyết áp ở người già cao hơn mới là bình thường. Con số bình thường ở người 70 tuổi cũng vẫn như của người 20 tuổi. Con số 110/70 ở người 80 tuổi không phải là hạ huyết áp!
Một trường hợp đặc biệt nữa là huyết áp tâm trương vẫn bình thường, nghĩa là dưới 90mmHg, trong khi huyết áp tâm thu lại cao, trên 140. Khi đó, người ta dùng cụm từ tăng huyết áp tâm thu đơn thuần. Kiểu tăng huyết áp này hay gặp ở người già, cũng hay có biến chứng như tăng huyết áp cả hai con số.
(theo: YTGĐ)