Dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt ở trẻ em là loại bệnh lý chiếm tỷ lệ khá cao ở nước ta và trên thế giới. Tại Việt Nam, mỗi năm có thêm khoảng trên 5000 cháu mới ra đời mắc bệnh (chiếm tỷ lệ 0,20,5%).
Chủ nhiệm đề tài:Phạm Khắc Bằng
Đặt vấn đề: Tại Việt Nam, mỗi năm có thêm khoảng trên 5000 cháu mới ra đời mắc bệnh (chiếm tỷ lệ 0,20,5%). Nguyên nhân bệnh chưa rõ, nhưng việc điều trị chỉ thực hiện bằng phẫu thuật tạo hình dưới gây mê nội khí quản. Khi gây mê phẫu thuật ở trẻ em, giai đoạn khởi mê đóng vai trò hết sức quan trọng vì từ đây có thể dẫn tới các tai biến và biến chứng tiếp theo. Ở trẻ em có nhiều phương pháp khởi mê như: khởi mê đường tĩnh mạch, khởi mê đường hô hấp, tiêm bắp, trực tràng, tuy nhiên không có phương pháp nào được coi là hoàn hảo. Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm riêng. Việc lựa chọn khởi mê theo phương pháp nào còn tuỳ thuộc vào độ tuổi, tình trạng bệnh lý, kinh nghiệm và sự ưa thích của người gây mê. Ngày nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, kỹ thuật khởi mê đường hô hấp bằng cách tự thở là khá phổ biến, thường được dùng cho trẻ nhỏ dưới 10 tuổi. Phương pháp này dễ thực hiện, trẻ không đau, ít sợ hãi và dễ chấp nhận. Thuốc mê hô hấp được sử dụng trong khởi mê cho trẻ em có nhiều loại: Halothan, N20. sevofluran, desfluran, isofluran, enfluran, trong đó sevofluran là thuốc được nhiều người lựa chọn vì nó không kích thích đường hô hấp, mùi dễ chịu, dễ thực hiện, khởi mê nhanh, tính an toàn và hiệu quả cao. Halothan tuy vẫn được sử dụng trên lâm sàng nhưng nó còn gây ra một số tác dụng phụ như: rối loạn nhịp tim, tụt huyết áp… thậm chí ngừng tim nếu dùng nồng độ quá cao. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “So sánh gây mê bằng sevofluran với halothan trong phẫu thuật tạo hình hàm mặt ở trẻ em”, nhằm các mục tiêu sau:
1. So sánh hiệu quả phương pháp gây mê bằng sevoflura và halothan cho phẫu thuật hàm mặt ở trẻ em.
2. Đánh giá các biến chứng và biện pháp xử lý trong giai đoạn khởi mê của sevofluran và halothan.
3. Xây dựng quy trình sử dụng sevofluran gây mê cho trẻ em trong phẫu thuật hàm mặt.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng và cỡ mẫu nghiên cứu:Đối tượng nghiên cứu là 106 bệnh nhân dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt, chia làm hai nhóm ngẫu nhiên, trong đó:
+ Nhóm I: gồm 57 bệnh nhân gây mê bằng sevofluran qua đường hô hấp với chế độ tự thở.
+ Nhóm II: gồm 49 bệnh nhân gây mê bằng halothan qua đường hô hấp với chế độ tự thở.
Địa điểm nghiên cứu:Khoa Gây mê Hồi sức Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội.
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
+ Tuổi: từ 6 tháng đến 8 tuổi.
+ Trọng lượng: ≥ 6kg với khe hở môi
≥ 9kg với khe hở vòm miệng
+ Tình trạng toàn thân ASA I ASA II.
Tiêu chẩn loại trừ:
+ Loại trừ các bệnh nhân tiên lượng đặt ống NKQ khó.
Class III + IV theo tiêu chuẩn Mallampati
+ Loại trừ các bệnh nhân có dị tật bẩm sinh khác về hô hấp, tim mạch, thần kinh.
+ Loại trừ các bệnh kèm theo:
Suy dinh dưỡng nặng (độ II III)
Viêm tai giữa, viêm đường hô hấp
Các tiền sử dị ứng, hen (có tính chất gia đình)
Chống chỉ định của sevofluran và halothan.
Phương pháp nghiên cứu:Phương pháp tiến cứu lâm sàng, mù đơn, ngẫu nhiên có đối chứng.
Kết luận
Nghiên cứu trên 106 bệnh nhi từ 6 tháng tuổi đến 8 tuổi có phẫu thuật hàm mặtl tình trạng ASA I II, được chia làm hai nhóm một cách ngẫu nhiên: nhóm I gây mê bằng sevofluran và nhóm II gây mê bằng halothan qua đường hô hấp với chế độ tự thở của máy Dräger bằng hệ thống vòng kín có vôi soda, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
1. Hiệu quả phương pháp gây mê bằng thuốc sevofluran và halothan
Khởi mê:Cả hai nhóm đạt tỷ lệ cao, thời gian của nhóm I là 4,25 ± 0,44 phút và nhóm II là 5,29 ± 1,07 phút. Kết quả này có ý nghĩa thống kê với p < 0.001.
Duy trì mê:Cả hai nhóm đều đạt hiệu quả tốt, mạch, huyết áp, thân nhiệt và các chỉ số duy trì trong khoảng cho phép. Kết quả này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Thoát mê, hồi tỉnh:
+ Thời gian thoát mê của nhóm I (6,18 ± 0,62 phút) nhỏ hơn so với nhóm II (8,90 ± 0,87 phút). Kết quả này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
+ Toàn bộ cuộc mê ở cả hai nhóm đều đạt tỷ lệ tốt trên 90%, nhưng ở nhóm I cao hơn nhóm II với tỷ lệ tốt ở nhóm I là 98,25% và nhóm II là 91,84%; còn tỷ lệ trung bình ở nhóm I là 1,75% và ở nhóm II là 8,16%.
2. Đánh giá các biến chứng và biện pháp xử lý trong giai đoạn khởi mê của thuốc sevofluran và halothan.
Ở nhóm I:gặp 2 bệnh nhân (3,5%) là nín thở nhẹ < 10 giây và 1 bệnh nhân bị biến chứng nấc nhẹ (1,8%).
Ở nhóm II:
Một bệnh nhân co thắt thanh quản nhẹ (2%); 4 bệnh nhân nín thở nhẹ < 10 giây (8,2%); 1 bệnh nhân ho nhẹ (2%); 2 bệnh nhân tăng tiết đờm dãi (4,1%) và 3 bệnh nhân rét run (6,1%). Các bệnh nhân này không cần phải xử trí gì.
Một bệnh nhân có ngoại tâm thu thất, là một biến chứng nguy hiểm do đó cần phải xử trí nhanh bằng cách tăng FGF, hạ nồng độ khí mê halothan < 0,5% và bóp bóng hỗ trợ. Sau gần 1 phút tình trạng tim mạch trở lại bình thường, ca mổ tiến hành bình thường.
Tất cả các tai biến phiền nạn của cả hai nhóm đều xảy ra trong thời kì khởi mê. Riêng ở nhóm II có 2 bệnh nhân phản ứng rét run sau mổ nhưng thoáng qua
Theo website Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương Hà Nội