Ung thư tế bào nhỏ chiếm tỉ lệ 20 25% tổng số UTP và là một bệnh khác biệt với các khối u khác trong lồng ngực vì sự tiến triển nhanh và sớm dẫn đến tử vong, nếu không được chẩn đoán và điều trị kip thời
TÓM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện K từ 1/1999 đến 12/2006 trên 124 bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tuổi thấp nhất là 39 tuổi, cao nhất là 73 tuổi, trung bình là 56,4, đỉnh cao 55 60 tuổi. Tỉ lệ nam/nữ: 14,5/1. Triệu chứng thường gặp: Ho khan 76,6% hoặc kèm ho có đờm lẫn màu 21%. Đau ngực 66,1%, khó thở, sốt chiếm tỉ lệ 34,7%. Sút cân và di căn hạch thượng đòn với tỉ lệ tương ứng là 14,5 và 20,2%. Di căn não, gan, phổi là vị trí hay gặp với tỉ lệ 7,3; 4,8 và 4,8%. Chỉ số KPS <80% chiếm tỉ lệ 33,9% và 80100% chiếm tỉ lệ 66,1%. Giai đoạn khu trú chiếm 84,7% và lan tràn 15,3%. Mô bệnh học ung thư phổi tế bào nhỏ chiếm tỉ lệ 99,2%, thể kết hợp là 0,8%
ABSTRACT
The study was carried out at the K Hospital from 1/1999 to 12/2006 on 124 small cell lung cancer. The results show that range of age is from 39 to 73 year, pick: 55 60 years and average age is 56.4. Man/woman is 14.5/1. Main symptom is dry cough rate 76.6% or combination cough bleeding 21%. Chest pain rate is 66.1%, dysnea and fever is 34.7%. Weigh loss is 14.5% and metastasis supraclavecular lymph node rate is 20.2%. Metastarize to brain, liver and lung 7.3%, 4.8% and 4.8%. Karnofsky perfomance status under 80% is 33.9% and from 80 to 100% rate is 66.1%. Limited stage disease: 84.7%; extensive stage disease:15.3%. Smal cell carcinoma is 99.2%, and combination rate is 0.8%.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư phổi (UTP) là một trong những bệnh ung thư thường gặp. Bệnh đứng hàng thứ nhất ở nam giới và đứng hàng thứ 4 ở nữ giới. Theo thống kê của IARC giai đoạn 20002003, tỉ lệ mắc chuẩn theo tuổi của UTP tại một số vùng trên thế giới rất khác nhau và tỉ lệ UTP vẫn tiếp tục tăng ở phần lớn các nước trên thế giới: ở Việt Nam, theo ghi nhận ung thư giai đoạn 2001 2004, tỉ lệ mắc chuẩn theo tuổi ở Hà Nội là 40,2/100.000 nam và 10,6/100.000 nữ. Tần số mắc UTP tăng dần theo lứa tuổi. Tuổi thường gặp từ 35 đến 75 tuổi, đỉnh cao ở lứa tuổi 55 65 tuổi. Hơn 90% UTP liên quan đến hút thuốc lá và hút thuốc thụ động. Tỉ lệ tử vong theo ghi nhận của SEER (2002) là 73,2/00.000 nam và 41,6/100.000 nữ. Dưới 10% ung thư phổi tế bào nhỏ (UTPTBN) sống thêm được 5 năm và 80% chết trong vòng một năm sau chẩn đoán. UTPTBN chiếm tỉ lệ 20 25% tổng số UTP và là một bệnh khác biệt với các khối u khác trong lồng ngực vì sự tiến triển nhanh và sớm dẫn đến tử vong, nếu không được chẩn đoán và điều trị kip thời. Khoảng 60 70% số bệnh nhân (BN) được chẩn đoán ở giai đoạn lan tràn. Các triệu chứng lâm sàng của UTPTBN rất phong phú. Từ những yếu tố đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ung thư phổi tế bào nhỏ", nhằm tìm hiểu các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ung thư phổi tế bào nhỏ.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu 124 bệnh nhân được chẩn đoán UTPTBN tại Bệnh viện K Hà Nội từ tháng 1/1999 tháng 12/2006.
Tiêu chuẩn chọn lựa bệnh nhân
Tất cả các trường hợp chẩn đoán ung thư phổi tế bào nhỏ dựa trên:
Chẩn đoán mô bệnh học là ung thư biểu mô tế bào nhỏ.
BN được khám lâm sàng, ghi chép hồ sơ bệnh án chi tiết, các xét nghiệm cận lâm sàng đầy đủ.
Tiêu chuẩn loại trừ
Chẩn đoán UTPTBN nhưng kết quả mô bệnh là biểu mô không phải tế bào nhỏ.
Bệnh nhân bị thất lạc thông tin sau điều trị.
2.Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Các chỉ số nghiên cứu
Đặc điểm bệnh nhân
Giới, độ tuổi và tuổi trung bình.
Các triệu chứng lâm sàng hay gặp và các hội chứng của ung thư phổi tế bào nhỏ.
Thời gian từ khi bệnh nhân có dấu hiệu biểu hiện bệnh đến khi được chẩn đoán.
Chẩn đoán giai đoạn.
Đặc điểm cận lâm sàng
Kết quả chẩn đoán hình ảnh.
Kết quả chẩn đoán mô bệnh học.
Kết quả huyết học, sinh hoá và chỉ điểm khối u.
Xử lí số liệu.
Về mặt xử lí số liệu, chúng tôi sử dụng các phương pháp thông kê phổ biến: giá trị trung bình (X), tỉ lệ %, so sánh hai tỉ lệ test c.
Quản lí và phân tích, xử lí số liệu trên máy vi tính theo chương trình phần mềm SPSS 13.0.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
Trong khoảng thời gian từ 1/1/1999 đến 31/12/2006 chúng tôi đã chọn được 124 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu, bao gồm:
2. Tuổi và giới
Bảng 1. Phân bố nhóm tuổi
| Nhóm tuổi | £ 40 | 41 50 | 51 60 | 61 70 | >70 |
| n | 5 | 31 | 50 | 33 | 5 |
| Tỉ lệ (%) | 4,0 | 25,1 | 40,3 | 26,6 | 4,0 |
Nhận xét: Tuổi thường gặp là từ 4170, đỉnh cao là 51 60 tuổi. Ung thư phổi ít gặp ở tuổi dưới 40.
Bảng 2. Nhóm tuổi BN và giới
| Tuổi và giới | n | Tỉ lệ (%) |
| Nhóm tuổi: |
|
|
| < 65 tuổi | 97 | 78,2 |
| ³ 65 tuổi | 27 | 21,8 |
| Giới: |
|
|
| Nam | 116 | 93,5 |
| Nữ | 8 | 6,5 |
| Tổng số | 124 | 100 |
Nhận xét: Tuổi <65 tuổi chiếm tỉ lệ 78,2% và ³65 tuổi chỉ chiếm 21,8%. Nam chiếm đa số: 93,5% và nữ chỉ chiếm 6,5%. Nam/Nữ = 14,5/1.
3. Đặc điểm lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng của ung thư phổi tế bào nhỏ rất phong phú.
Bảng 3. Đặc điểm lâm sàn
| Triệu chứng lâm sàng | n (124) | Tỉ lệ (%) |
| Ho khan | 95 | 76,7 |
| Ho khạc đờm lẫn máu | 26 | 21,0 |
| Đau ngực | 81 | 65,3 |
| Khó thở | 43 | 34,7 |
| Khàn tiếng | 21 | 16,9 |
| Sút cân | 18 | 14,5 |
| Sốt | 43 | 34,7 |
| Chán ăn | 16 | 12,9 |
| Mệt mỏi | 24 | 19,4 |
| Mất ngủ | 11 | 8,9 |
| Di căn hạch thượng đòn | 25 | 20,2 |
| Di căn xa: Gan | 6 | 4,8 |
| Phổi | 6 | 4,8 |
| Não | 9 | 7,2 |
| Xương | 2 | 1,6 |
| Hạch | 3 | 2,4 |
| Nơi khác | 2 | 1,6 |
| Hội chứng cận ung thư | 19 | 15,3 |
| Hội chứng Pierre Marrie | 3 | 4,2 |
| Pancoas Tobias | 1 | 0,8 |
| Hội chứng tĩnh mạch chủ trên | 3 | 2,4 |
Nhận xét: Triệu chứng thường gặp của ung thư phổi tế bào nhỏ là ho khan và/hoặc ho khạc đờm lẫn máu 76,6%, đau ngực 65,3%; tiếp đến là khó thở 34,7%; sốt 34,7%; khàn tiếng 16,9%. Các triệu chứng khác ít gặp hơn.
4. Cận lâm sàng
Bảng 4. Đặc điểm cận lâm sàng
| Đặc điểm cận lâm sàng | n | Tỉ lệ (%) |
| Chẩn đoán Xquang phổi | 124 | 100 |
| Siêu âm ổ bụng | 124 | 100 |
| CLVT | 26 | 21 |
| Chụp cộng hưởng từ sọ não | 124 | 100 |
| SPECT | 35 | 28,2 |
|
|
| |
| CTBC < 4,000/mm3 | 7 | 5,6 |
| 4,00010,000/mm3 | 94 | 75,8 |
| >10,000/mm3 | 23 | 18,6 |
| Huyết sắc tố < 9 g/l | 1 | 0,8 |
| 9 12 g/l | 18 | 14,5 |
| >12 g/l | 105 | 84,7 |
| Xét nghiệm sinh hoá AST, ALT £ 40 U/L | 86 | 69,4 |
| 41100 U/L | 36 | 29,0 |
| >100 UI | 2 | 1,6 |
| Urea máu £ 7,0 mmol/l | 115 | 92,8 |
| >7,0 mmol/l | 9 | 7,2 |
| Creatinin £ 120 mg/dL | 124 | 100 |
Nhận xét: 100% số bệnh nhân được chụp Xquang phổi và CLVT, chỉ có 21% số bệnh nhân có nghi ngờ di căn não được chụp cộng hưởng từ. Chụp SPECT chiếm tỉ lệ 28,2% số bệnh nhân. Số lượng bạch cầu từ 4.000 đến 10.000/mm3 chiếm đa số với tỉ lệ 75,8%; trên 10.000/mm3 và dưới 4.000/mm3 ít gặp với tỉ lệ tương ứng 18,6% và 5,6%. Huyết sắc tố >12 g/l chiếm tỉ lệ 84,7%; chỉ có 1 trường hợp (0,8%) tỉ lệ huyết sắc tố <9 g/l. Tỉ lệ men gan £40 U/L chiếm 69,4%. Trên 40 U/L chiếm tỉ lệ 30,6%. Urea máu bình thường chiếm tỉ lệ 92,8%; 7,2% trường hợp Urê >7%. Không có trường hợp nào Creatinin >120 mg/dL.
5. Mô bệnh học
Bảng 5. Đặc điểm bệnh học
| Đặc điểm bệnh học | n | Tỉ lệ (%) |
| Mô bệnh học UTBM tế bào nhỏ | 123 | 99,2 |
| UTBM tế bào nhỏ phối hợp tế bào lớn | 0 | 0 |
| TBM tế bào nhỏ phối hợp với thể khác | 1 | 0,8 |
| Giai đoạn bệnh Khu trú | 102 | 82,3 |
| Lan tràn | 22 | 17,7 |
| Chỉ số KPS ³ 80% | 82 | 66,1 |
| < 80% | 42 | 33,9 |
| Thời gian phát hiện bệnh 1 3 tháng | 94 | 75,8 |
| 4 6 tháng | 23 | 18,5 |
| > 6 tháng | 7 | 5,6 |
Nhận xét: Ung thư phổi TBN chiếm 99,2%, chỉ có 0,8% UTBM tế bào nhỏ phối hợp với UTBM tuyến. Chúng tôi không gặp trường hợp nào phối hợp với UTBM vảy và tế bào lớn. Giai đoạn khu trú chiếm tỉ lệ phần lớn với tỉ lệ 82,3% và giai đoạn lan tràn chỉ chiếm 17,7%. Chỉ số KPS ³80% chiếm tỉ lệ 66,1%. Thời gian phát hiện bệnh sớm (trước 3 tháng) chiếm tỉ lệ 75,8%, chỉ có 5,6% số bệnh nhân phát hiện bệnh trên 6 tháng.
IV. BÀN LUẬN
1. Tuổi và giới
Tuổi trung bình 56,4 (tuổi thấp nhất 37 tuổi và cao nhất là 73 tuổi). Tuổi trung bình của chúng tôi thấp hơn của một số tác giả trên thế giới và trong nước. Langer và CS, Cronenberger báo cáo năm 2006: tuổi trung bình 64 (khoảng dao động từ 49 79 tuổi). Mitsuoka (2004) là 62 tuổi (tuổi thấp nhất 45 tuổi và cao nhất là 70 tuổi tuổi), Okamoto, Wantanabe, JCOG (2005) là 64 (tuổi thấp nhất 43 tuổi và cao nhất là 74 tuổi). Báo cáo của Socinski (2004) là 61 (tuổi thấp nhất 53 tuổi và cao nhất là 74 tuổi). Và trong nghiên cứu của Joos là 66 (tuổi thấp nhất 36 tuổi và cao nhất là 88 tuổi). Có sự khác biệt này là do: tuổi giới hạn trong nghiên cứu của chúng tôi là £73 tuổi và tuổi thọ trung bình của các nước phát triển và một số nước ở Châu Á (Nhật Bản, nam 77 tuổi và 82 tuổi ở nữ) cao hơn người Việt Nam. So với các nghiên cứu trong nước, kết quả của chúng tôi cũng tương tự như các tác giả đã công bố: Đặng Thanh Hồng (2004) là 58,5. Tuổi <65 chiếm tỉ lệ 78,2% và ³65 tuổi chiếm tỉ lệ 21,8%, tỉ lệ của chúng tôi khác biệt không đáng kể so với một số tác giả. Theo nghiên cứu của Đặng Thanh Hồng (2005), tuổi <65 là 62,6% và ³65 là 37,4%. Eckardt (2004) là 68% và 32% và Schild là 79% và 21%. Tỉ lệ nam/nữ là 116/8/ 14,5/1. Tỉ lệ này cao hơn nhiều so với các tác giả trên thế giới. Nghiên cứu của Mitsuoka là 4,7/1; nhóm JCOG (2005) là » 6,8/1 và Cronenberger báo cáo năm 2006 là 2,8/1, Niell (2002) là 0,8/1. Kết quả này cũng cao hơn của Đặng Thanh Hồng (2005) là 4,4/1. Sở dĩ có sự khác biệt này là do phụ nữ trên thế giới hút thuốc lá nhiều hơn và có xu hướng tăng cao so với phụ nữ Việt Nam. Nữ giới miền Bắc cũng ít hút thuốc lá hơn, vì nữ giới miền Nam có lối sống du nhập phương tây sớm trong thời gian chiến tranh.
2. Đặc điểm lâm sàng
Nhóm các triệu chứng hô hấp
Triệu chứng thường gặp của ung thư phổi TBN là ho khan kéo dài, tỉ lệ gặp 76,7%; tỉ lệ này tương đương với các tác giả.
Theo Ginsberg (1997), Masters (2007) tỉ lệ gặp từ 4575%. Triệu chứng ho giữa các típ mô bệnh học cũng khác nhau, theo Spiro (1995) ung thư biểu mô TBN gặp 60%, biểu mô tuyến 42%, và tế bào lớn là 36%. Ho là triệu chứng thường gặp nhất trong ung thư phổi và là triệu chứng của nhiều bệnh về phổi (viêm phế quản, viêm phổi, lao phổi, …)
Do vậy, bệnh nhân và thầy thuốc không chuyên khoa dễ bỏ qua triệu chứng này. Ho khạc đờm hoặc lẫn máu cũng thường gặp chiếm tỉ lệ 21%, nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn các tác giả, theo Ginberg tỉ lệ này là 25%, Spiro là 50% và Masters là 40%. Đau ngực cũng là triệu chứng thường gặp, đau tức âm ỉ tỉ lệ 65,3%. Khi bệnh tiến triển lan rộng, xâm lấn thành ngực hoặc cột sống, dấu hiệu đau thường liên tục và có xu hướng tăng dần nếu bệnh nhân không được điều trị đúng chuyên khoa.
Tỉ lệ của chúng tôi thấp hơn của Nguyễn Đại Bình(1999) là 87,7% và cao hơn Ginberg là 48%, Masters là 3045% và Chute 30 40% [51] các trường hợp khi chẩn đoán. Khó thở chiếm tỉ lệ 34,7%, thấp hơn Nguyễn Đại Bình (1999): 60,3%, Ginberg là 40% và tương tự Chute 3040%. Triệu chứng thường xẩy ra sớm, nguyên nhân khó thở là do co thắt phế quản, u chèn ép phế quản gốc, viêm phổi tắc nghẽn gây xẹp phổi, bội nhiễm phổi, tràn dịch màng phổi.
Nhóm các triệu chứng toàn thân
Nhóm triệu chứng này gồm các triệu chứng toàn thân: Sốt, gầy sút cân, chán ăn và ăn kém, hội chứng cận u. Hội chứng cận u do nhiều cơ chế và có nhiều giả thuyết giải thích hội chứng này. Giả thuyết được nhiều tác giả chấp nhận đó là các dấu ấn sinh học của khối u và nó phụ thuộc vào mô sinh u, nghĩa là sau khi cắt bỏ khối u thì hội chứng này cũng hết. Biểu hiện của hội chứng là tình trạng tăng can xi huyết, tăng hócmôn chống bài niệu, quá phát xương khớp, thiếu máu, … Thường gặp ở ung thư biểu mô tế bào nhỏ Hội chứng PierreMarie gặp 4,2%; tỉ lệ của chúng tôi thấp hơn các tác giả. Theo các tác giả hội chứng này biểu hiện móng tay khum, ngón tay dùi trống (41 53%), sưng đau các khớp (21%). Hội chứng TMCT 2,4%; kết quả này tương đương với Paulson và CS, Johnson và CS, không quá 2% số bệnh nhân thấp hơn và thấp hơn báo cáo của Ginberg, hội chứng tĩnh tắc mạch chủ trên gặp 10% trong tổng số ung thư phổi TBN. Hội chứng cận u nội tiết (SchwarzBartter) gặp tỉ lệ 15,9%. Biểu hiện giảm natri, nôn, rối loạn ý thức, tăng hócmôn chống bài niệu là hội chứng thường gặp trong ung thư phổi tế bào nhỏ. Sút cân gặp ở 30 78% các trường hợp. Sốt chiếm tỉ lệ khoảng 45%. Mệt mỏi, chán ăn khoảng 10 20%.
Nhóm các triệu chứng di căn xa
Ung thư phổi có thể di căn tới các cơ quan trong cơ thể, thường gặp nhất là di căn não, xương, gan, hạch theo tỉ lệ tương ứng 7,2%; 1,6%; 4,8% và 2,4% thấp hơn một số tác giả. Theo ghi nhận của Masters (2000), tại thời điểm chẩn đoán có khoảng 25% trường hợp có biểu hiện di căn xương, 20% có biểu hịên di căn gan, hạch và 5 10% có biểu hiện di căn não. Những triệu chứng trên thường gặp là vì ung thư phổi tế bào nhỏ phát triển ở các phế quản lớn, phát triển nhanh, độ ác tính cao, di căn xa sớm. Tuy nhiên, các triệu chứng lâm sàng của UTP không đặc hiệu mà chỉ có ý nghĩa định hướng cho chẩn đoán. Nhìn chung, đa số các trường hợp khởi phát và tiến triển âm thầm trong giai đoạn đầu, do đó khi xuất hiện các triệu chứng khối u đã khá lớn. Khoảng 5 10% các trường hợp UTP là không có triệu chứng lâm sàng mà chỉ phát hiện tình cờ khi chụp Xquang.
3. Đặc điểm cận lâm sàng
Về chẩn đoán hình ảnh
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% số bệnh nhân được chụp Xquang thường quy và CLVT để đánh giá tổn thương và xác định tình trạng lan tràn của bệnh.
Chụp Xquang thường quy: Chụp phổi chuẩn có thể phát hiện một tổn thương có đường kính khoảng 5cm trở lên. Tuy nhiên với những u dưới 5cm là khó nhận thấy. Xác định xẹp phổi, viêm phổi, áp xe, viêm phế quản kết hợp, tình trạng u xâm lấn hoặc di căn xương sườn gây tiêu xương, tràn dịch màng phổi, các di căn hạch ở trung thất và xác định ung thư phổi nguyên phát. Việc phát hiện các hạch ở vùng rốn phổi và vùng trung thất là khó khăn, trừ khi tổn thương di căn rõ rệt. Xquang phổi cho giá trị chẩn đoán thấp trong việc xác định các di căn hạch ở trung thất, độ nhạy xấp xỉ 60%.
Chụp cắt lớp vi tính: Là một kĩ thuật có hiệu quả nhất đối với việc đánh giá tổn thương nghi ngờ ở phổi và vùng trung thất. Tính chính xác của chụp cắt lớp để xác định những di căn hạch ở vùng trung thất lại thay đổi rất lớn với độ nhạy từ 51 95%. Kích cỡ các hạch bạch huyết là >1cm theo đường kính lớn nhất được chấp nhận là một chỉ tiêu đánh giá di căn các hạch bạch huyết. Xấp xỉ 815% số bệnh nhân chụp cắt lớp được đánh giá âm tính đối với di căn các hạch ở trung thất với kích thước hạch <1cm. Các hạch ở vùng trung thất >2cm, 90% là có di căn vào hạch, các hạch bạch huyết có kích cỡ từ 12 cm sẽ có 50 % di căn hạch, kích cỡ hạch từ 1 1,5 cm di căn hạch chiếm từ 15 30%. Ngoài ra, CLVT còn được sử dụng trong việc đánh giá tình trạng di căn xa (di căn não, các tạng trong ổ bụng, …)
Chụp cộng hưởng từ: Được chỉ định cho những trường hợp nghi ngờ di căn não, trong nghiên cứu này chỉ có 21% chụp CHT và tỉ lệ di căn não là 7,2%. Tỉ lệ di căn não trong ung thư phổi tế bào nhỏ rất cao, do đó chụp CHT là cần thiết để đánh giá di căn não.
Xạ hình SPECT: Xạ hình không chỉ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đơn thuần mà nó còn giúp hiểu và đánh giá chức năng của cơ quan và một số biến đổi bệnh lí khác của chính cơ quan đó. Xạ hình được ứng dụng ghi hình ở cả tổ chức phần mềm (tưới máu não, phổi, cơ tim, các cơ quan trong ổ bụng…) và xương. Phương pháp xạ hình có vai trò quan trọng trong việc phát hiện các khối u, đặc biệt là khối u ác tính, cũng như theo dõi tái phát và di căn. Trong nghiên cứu này tỉ lệ thực hiện xạ hình xương là 35/124 bệnh nhân, chiếm 28,2%. Trong đó phát hiện di căn xương là 2/35 (5,7%). Vì vậy, xạ hình xương là một xét nghiệm cần thiết để đánh giá chính xác giai đoạn bệnh và cần thiết phải đánh giá thường quy.
Về mô bệnh học
Chúng tôi phân loại mô bệnh học theo phân loại 1988 của IASLC. Ung thư biểu mô tế bào nhỏ chiếm đại đa số với tỉ lệ 99,2%; chỉ có một trường hợp (0,8%) là loại phối hợp với ung thư biểu mô tuyến. Kết quả của chúng tôi tương tự báo cáo của Đặng Thanh Hồng (2004) UTBM tế bào nhỏ 98,2%; loại phối hợp là 0,9%. Chúng tôi không gặp trường hợp nào phối hợp với UTBM tế bào lớn. Theo Đặng thanh Hồng, Loại UTBM tế bào nhỏ kết hợp với UTBM tế bào lớn là 0,9%. So với các tác giả trong khu vực và trên thế giới thì tỉ lệ này thay đổi rất nhiều. Theo Mangum và CS, Tỉ lệ phối hợp với ung thư phổi KTBN là 2%, và theo Hirsch và CS, Aisner và CS tỉ lệ phối hợp với UTBM tế bào lớn là từ 13%.
Tỉ lệ huyết sắc tố
Không có trường hợp nào thiếu máu nặng (huyết sắc tố <6g/l), thiếu máu vừa (69g/l) là 0,8%, thiếu máu nhẹ (9 12g/l) là 14,5% và 84,7% không bị thiếu máu với tỉ lệ huyết sắc tố ³12g/l. Tỉ lệ thiếu máu là 15,3%. Thiếu máu thường mang tính chất mãn tính là do một số bệnh nhân ho khạc đờm lẫn máu kéo dài, viêm phổi phối hợp, ung thư áp xe hoá, bệnh tiến triển di căn vào xương, gan…
Về số lượng bạch cầu
Theo hằng số sinh học của người Việt Nam, số lượng bạch cầu ở máu ngoại vi trên 10.000/mm3 được coi là tăng và thường gặp trong bệnh ung thư phổi nói chung cũng như ung thư phổi tế bào nhỏ. Trong nghiên cứu chúng tôi gặp tỉ lệ tăng bạch cầu là 18,6%. Số lượng bạch cầu tăng cao là do UTP thường phối hợp với một số bệnh lí khác: viêm phế quản mãn, viêm phổi tắc nghẽn dẫn đến xẹp phổi, bội nhiễm phổi hoặc áp xe phổi.
Về chức năng gan, thận
Tỉ lệ viêm gan trước điều trị chiếm 30,6%; do bệnh nhân thường phối hợp với viêm gan mãn hoặc do rượu. Những trường hợp này phải điều trị viêm gan trước cho tới khi men gan trở về bình thường mới điều trị theo phác đồ hoá xạ trị. Chức năng thận giảm thường gặp độ I và chỉ có 7,2%; không có trường hợp nào tăng Creatinin.
Về bệnh học
Về thời gian từ khi phát hiện bệnh đến khi điều trị
Khoảng thời gian kể từ khi có triệu chứng bệnh (ho, ho khạc đờm lẫn máu, đau ngực, khó thở, sút cân…) cho tới khi bệnh nhân vào viện và điều trị bệnh theo phác đồ là từ một vài tuần cho đến một năm, tỉ lệ bệnh nhân phát hiện >3 tháng chiếm tỉ lệ 24,2% trong đó có 5,6% trên 6 tháng. Lí do phát hiện muộn là do bệnh nhân chủ quan với bệnh tật và thường cho là cảm cúm, viêm phế quản thông thường và tự điều trị. Mặt khác, một số thầy thuốc không chuyên khoa thường chẩn đoán nhầm với một số bệnh đường hô hấp khác: viêm phế quản, viêm phổi, lao phổi…, mà bỏ qua giai đoạn sớm của bệnh.
Chẩn đoán giai đoạn bệnh
Giai đoạn khu trú chiếm tỉ lệ 84,7%, giai đoạn lan tràn 15,3%. Tỉ lệ giai đoạn khu trú trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn một số tác giả trong nước và trên thế giới. Có sự khác biệt này là do chỉ tiêu nghiên cứu của chúng tôi chỉ chọn những bệnh nhân ở giai đoạn khu trú và một số bệnh nhân giai đoạn lan tràn còn chỉ định hoáxạ trị được mới đưa vào trong nghiên cứu này. Theo nghiên cứu của Đặng Thanh Hồng và cs (2005), giai đoạn khu trú chỉ chiếm 38,3%. Báo cáo của nhóm VALSG (2004) giai đoạn lan tràn chiếm tỉ lệ 6070% và giai đoạn khu trú chỉ chiếm 3040%. IASLC, giai đoạn khu trú chiếm tỉ lệ 29% và Woff giai đoạn khu trú 40%.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu 124 bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ, chúng tôi có một số kết luận sau:
Tuổi thấp nhất là 39 tuổi, cao nhất là 73 tuổi, trung bình là 56,4. Đỉnh cao 55 60 tuổi. Tỉ lệ nam/nữ: 14,5/1. Triệu chứng thường gặp: Ho khan 76,6% hoặc kèm ho có đờm lẫn màu 21%. Đau ngực 66,1%; Khó thở, sốt chiếm tỉ lệ 34,7%. Sút cân và di căn hạch thượng đòn với tỉ lệ tương ứng 14,5 và 20,2%. Di căn não, gan, phổi là vị trí hay gặp với tỉ lệ 7,3; 4,8 và 4,8%. Chỉ số KPS <80% chiếm tỉ lệ 33,9% và 80100% chiếm tỉ lệ 66,1%. Giai đoạn khu trú chiếm 84,7% và lan tràn 15,3%. Mô bệnh học ung thư phổi tế bào nhỏ chiếm tỉ lệ 99,2%. Thể kết hợp 0,8% .
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Đại Bình (1999). “Nhận xét chẩn đoán và điều trị 262 bệnh nhân ung thư phế quản phổi tại Bệnh viện K từ 1992 1995”. Tạp chí thông tin Y Dược, số đặc biệt Chuyên đề Ung thư. Bộ Y tế, tr 111116.
2. Hoàng Đình Chân, Võ Văn Xuân, Bùi Công Toàn, Đỗ Tuyết Mai (2005). “Nghiên cứu các biện pháp chẩn đoán sớm và điều trị phối hợp ung thư phổi”. Đề tài cấp Nhà nước, chương trình KC 1006. p1233.
3. Nguyễn Bá Đức, Lại Phú Thưởng, Nguyễn Thị Hoài Nga và CS (2006). “Tình hình ghi nhận ung thư giai đoạn 2001 2004 qua ghi nhận ung thư tại 5 tỉnh thành Việt Nam”. Tạp chí Y học thực hành. Bộ Y tế xuất bản, tr 917.
4. Đặng Thanh Hồng và cs (2004). “Chẩn đoán và điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ tại Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh”. Tạp chí Y học thực hành số 489. Bộ Y tế xuất bản, tr 125129.
5. Đồng Khắc Hưng (1995). “Nghiên cứu lâm sàng, X quang phổi chuẩn và một số kĩ thuật xâm nhập để chẩn đoán ung thư phổi nguyên phát”. Luận án PTS Y học. Học viện Quân Y.
6. Nguyễn Chi Lăng (1992). “Góp phần nghiên cứu chẩn đoán ung thư phổi phế quản bằng kĩ thuật soi phế quản ống mềm sinh thiết xuyên thành phế quản và chải rửa phế quản mù”. Luận án Phó tiến sĩ Y học. Đại học Y Hà Nội.
7. Hoàng Phú Lực, Võ Văn Xuân, Bùi Công Toàn (2000). “Chẩn đoán tế bào học ung thư phổi với phương pháp chọc dò qua thành ngực bằng kim nhỏ”. Tạp chí Y Dược học, số đặc biệt Chuyên đề Ung thư. Bộ Y tế, tr 128130.
8. Aisner SC, Finkenstien DM, Ettinger DS, và CS (1990). “The clinical signi ficance of variant morphology small cell carcinoma of the lung”. J Clin Oncol, 8: 402.
9. Argiris A, Murren JA (2007). “Staging and prognotic factors in small cell lung cancer. Lung cancer, Principles and practice”. Thirs edition, Lippincott Williams & Wilkins. p 38799.
10. Bunn PA, Nugent JL, mathews MJ (1998). “Central Nervous System Metastases in small cell Bronchogenic carcinoma”. Semin oncol, 5; 314.
11. Bunn PA, Jr (1992). “Lung cancer, Current understanding of the biology, diagnosis, staging and treatment”. USA. P 1438; 6180.
12. Bruzzi JF, Munden RF (2006). “PET/CT imaging of lung cancer”. J thorac Imaging. 28(1): 547. Review.
13. Masters GA (2007). “Clinical presentation of small cell carcinoma of the lung”. Lung cancer, Principles and practice. Thirs edition, Lippincott Williams & Wilkins, 304314.
14. Schonfeld N, Pnder J, Kaiser D, Loddn Kemper R (1994). “Lung cancer in young ADULTS”. Tub. And Lung Dis, vol 75, Supp: 138.
15. Simon GR, Wagner H (2003). “Small Cell Lung Cance”r. Chest, 123: 259S271S.
Võ Văn Xuân, Ths, Trưởng khoa Xạ Tổng hợp Tam Hiệp Bệnh viện K
Nguyễn Bá Đức, GS.TS, Giám đốc Bệnh viện K, Viện trưởng Viện NCPTUT,
Trưởng Bộ môn Ung thư ĐH Y Hà Nội, Phó chủ tịch Hội PCUTVN
(Theo benhvienk)